Thứ năm, 15 / 11 / 2018 , 07 : 29 GMT+7
Kỷ niệm 710 năm ngày mất Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn: Đức Thánh Trần trong đời sống tâm linh người Việt (21 / 09 / 2010)
(CTG) Trong tâm thức dân gian, Hưng Đạo Đại Vương thường được vinh danh là Đức Thánh Trần và đồng nhất Ngài với Ngọc Hoàng thượng đế, từ đó tạo nên một dòng đạo Nội - đạo Thanh đồng, mà Đức Thánh Trần là giáo chủ. "Sinh vị tướng, tử vi thần" (sống là tướng giỏi, chết là phúc thần), suốt mấy trăm năm qua, Đức Thánh Trần có ảnh hưởng sâu đậm trong đời sống tâm linh của người dân Việt.

"Sinh vị tướng, tử vi thần"

Tương truyền khi mới một tuổi, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã biết nói, lên 6 tuổi học hành rất giỏi và đã biết bầy ra nhiều thế trận lạ. Ngoài tài năng bẩm sinh, ông lại được cha là Trần Liễu (anh trai vua Trần Cảnh) mời thầy giỏi đào tạo trở thành người văn võ song toàn.
 
Vào thế kỷ XIII,  nhân dân Đại Việt đã phải 3 lần đương đầu với đại quân Nguyên - Mông tràn sang xâm lược đất nước. Trong hoàn cảnh ấy, Trần Hưng Đạo nổi lên như một trụ cột của triều đình. Câu trả lời đanh thép của ông: "Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước đã!" có tác dụng củng cố niềm tin cho vua tôi nhà Trần trong cuộc chiến không cân sức. Để xoá bỏ hiềm khích, ông đã tự tay dội nước tắm cho Thái sư Trần Quang Khải; để xoá bỏ nghi ngờ của mọi người đi hộ giá, ông bỏ gậy bịt sắt nhọn, chỉ cầm gậy không để mọi người yên lòng.

Với tư cách người làm tướng, ông đã quy tụ xung quanh mình những tướng lĩnh tài ba và tận trung như Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng, Nguyễn Địa Lô... Là vị tướng có tài, dụng binh như thần, "lấy đoản chế trường", "tránh mạnh đánh yếu", xây dựng một đội quân "tình nghĩa như cha con" với phương châm "quân cốt tinh không cốt nhiều" đã để lại cho đời những tác phẩm bất hủ: Hịch tướng sĩ, Binh thư yếu lược, Vạn Kiếp tông bí truyền thư...Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã thực sự hội đủ những phẩm chất: đại nhân, đại nghĩa, đại trí, đại dũng.

Mùa thu, ngày 20 tháng tám, năm Canh Tý, Hưng Long thứ 8 (năm 1300) "Bình Bắc đại nguyên soái" Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn qua đời tại tư dinh Vạn Kiếp. Theo lời dặn lại, thi hài ông được hỏa táng thu vào bình đồng và chôn trong vườn An Lạc, giữa cánh rừng An Sinh miền Đông Bắc, không xây lăng mộ, đất san phẳng, trồng cây như cũ...

Khi ông mất, vua phong ông tước Hưng Đạo Đại Vương. Triều đình lập đền thờ ông tại Vạn Kiếp, Chí Linh, ấp phong của ông thuở sinh thời. Đền được gọi là đền Kiếp Bạc (nay thuộc xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương), hai bên có hai đền Nam Tào và Bắc Đẩu chầu vào. Công lao sự nghiệp của ông khó kể hết. Vua coi như bậc trượng phu, trăm họ kính trọng gọi ông là Hưng Đạo Đại Vương.

Trong tâm thức dân gian, Hưng Đạo Đại Vương thường được vinh danh là đức Thánh Trần và đồng nhất Ngài với Ngọc Hoàng thượng đế, từ đó tạo nên một dòng đạo Nội - đạo Thanh đồng, mà đức Thánh Trần là giáo chủ. "Sinh vị tướng, tử vi thần" (sống là tướng giỏi, chết là phúc thần), suốt mấy trăm năm qua, Đức Thánh Trần đã thực sự có ảnh hưởng sâu đậm tới đời sống tâm linh tới đời sống tâm linh của người dân Việt.

“Sinh Kiếp Bạc, thác Trần Thương, quê hương Bảo Lộc”

 

Dân gian có câu: “Tháng tám giỗ Cha” là nói về ngày giỗ Đức Thánh Trần. Ngày “Giỗ Cha” nói tới ngày mất của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn qua đời. Đền Kiếp Bạc cùng với Bảo Lộc (Nam Định - quê hương ông) và đền Trần Thương  là 3 nơi chính tổ chức lễ hội hằng năm đáp ứng tâm nguyện của nhân dân về chiêm bái và “Giỗ Cha”. Cũng rất nhiều nơi lập đền thờ ông, song nhân dân về Trần Thương vừa “Giỗ Cha” vừa bái yết xin “Lương”, xin lộc như ở đền Bà Chúa Kho vậy.

Có câu: “Sinh Kiếp Bạc, thác Trần Thương, quê hương Bảo Lộc”. Chữ thác ở đây là gửi, là phó thác. Ngay từ lúc sinh thời, Trần Hưng Đạo đã gửi gắm sinh phần ở Trần Thương, chính vì vậy mà nhiều người cho rằng “thác Trần Thương” có nghĩa là ông để phần mộ ở đây. Ngay cả một số nhà ngoại cảm hiện nay cũng cho là như vậy (?). Theo truyền thuyết,  Kiếp Bạc là nơi sau kháng chiến chống quân Nguyên - Mông kết thúc thắng lợi (1288), ông xa giá hai Vua về Thăng Long (Trần Nhân Tông và Trần Anh Tông) rồi trở về tư dinh bên thung lũng Kiếp Bạc cạnh Lục Đầu Giang. Đến khi lâm bệnh nặng, ông dặn con cháu: “Ta chết phải hỏa táng, cho xương vào những ống tròn chôn ở vườn An Lạc rồi trồng cây như cũ để người đời sau không biết đâu mà tìm”. Lời di chúc này liệu có gắn với “Viên Lăng” (tức là vườn mộ của ông) mà dân gian thường gọi ở một quả đồi nhỏ cách Kiếp Bạc 100m về phía Nam (?). Cho đến nay, các nhà khảo cổ, các nhà nghiên cứu vẫn chưa xác định được mộ phần của Trần Hưng Đạo ở đâu. Theo truyền thuyết, đám tang của ông có trên 70 chiếc quan tài từ tư dinh cùng một lúc xuất phát và đưa tang rải đi khắp nơi,  có vợ con ông chia ra đi cùng. Tuy chưa biết nơi nào ông yên nghỉ, song với tâm thức của người dân dành tình cảm kính trọng Đức Thánh Trần là Cha, biểu tượng thiêng liêng về bậc Đại Nhân, Đại Trí, Đại Dũng của trăm họ nên hằng năm vào ngày 20/8 âm lịch, nhân dân và khách thập phương xa gần về chiêm bái và tưởng niệm Đức Thánh Trần trong ý niệm thiêng liêng là “Tháng tám Giỗ Cha”.


Tại đền Trần Thương (xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam), vào tháng tám âm lịch hằng năm, nhân dân tấp nập chuẩn bị cho ngày lễ chính. Từ ngày mồng một đầu tháng, nhân dân đã đến cúng bái lấy phúc. Đến mồng 10 là rước nước từ sông Hồng về. Các cụ kể lại là vừa “rước nước” vừa “nhập lương”. Còn có các nghi lễ cầu đảo, cúng tế đầu năm vào ngày tết Nguyên Đán, các vụ chiêm - mùa thì cầu cho bội thu với tâm ý là nơi kho lương của Đức Thánh Trần. Ngày mười rằm hương đăng hoa quả, ngày 18 là ngày cúng Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng (con thứ 3 của ông). Ngày 20 là tổ chức dâng hương giỗ chính, tiến hành phần “Lễ” gọi là phần thiêng, trong không khí thiêng hóa làm lòng người cùng cộng cảm và cộng mệnh. Hương trầm ngát tỏa, tất cả như thấy Hưng Đạo Đại Vương trên cao xanh, đang trầm tư vạch kế sách giữ nước với những áng thiên cổ hùng văn bất hủ như: “Vạn Kiếp Bí Tông Truyền thư”, “Binh Gia Diệu Lý Lếu lược” và “Hịch Tướng sỹ”. Lễ hội theo quy định được tổ chức 3 ngày nhưng trên thực tế có thể dài hơn bởi vì số lượng người về lễ đăng ký dự tế khá đông nên cần thêm ngày để bố trí cho các đội tế. Mỗi ngày có 4 đến 5 đám tế, từ rằm tháng 8 đã có đoàn đến tế ở đền.




Tượng thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn tại đền Trần Thương (Hà Nam).


Vào ngày chính hội, phần lễ có rước kiệu, dâng hương, tế lễ, phần hội có các trò đánh cờ tướng, bơi chải, đi cầu kiều, tổ tôm điếm… Thu hút sự quan tâm của nhiều người nhất là tục thi đấu cờ tướng. Tục này diễn ra trước các trò hội. Khi tiếng trống nổi lên báo hiệu cuộc chơi thì các đấu thủ cùng dân làng đến sân đền tham dự. Làng chọn các lão làng, các chức sắc có gia phong tốt vào khai cuộc, trong đó, người cao tuổi nhất được làm chủ tế. Chủ tế làm lề cáo yết Đức Thánh Trần rồi rước bàn cờ từ hậu cung quay ra, đến trước hương án nâng bàn cờ lên vái ba vái. Sau đó, cuộc chơi bắt đầu. Hai đấu thủ mang y phục truyền thống của các tướng lĩnh đời Trần mang thanh long đao vào cuộc. Sau một tuần hương, ai thắng, người đó đoạt giải. Vãn cuộc, quân cờ cùng bàn cờ được rửa bằng nước giếng của đền và nước ngũ quả, lau chùi cẩn thận rồi đặt lên hương án. Tục chơi cờ nhằm tưởng nhớ tài thao lược quân sự của Hưng Đạo Đại Vương, rèn luyện trí tuệ, nêu cao truyền thống chống giặc ngoại xâm của ông cha ta.


Lễ hội đền Trần Thương là một trong ba lễ hội vùng của tỉnh Hà Nam. Lễ hội này có ý nghĩa là một cuộc hành hương về cội nguồn không chỉ đối với người dân địa phương mà đối với người dân cả nước.


Thôn Trần Thương, xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam là nơi được Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn chọn làm kho lương của nhà Trần để phục vụ cuộc chiến chống Nguyên - Mông thế kỷ XIII.

Bằng nhãn quan của nhà quân sự, nhà chính trị lỗi lạc, Ông đã chọn nơi cất giữ lương thảo, khí giới với thế đất “hình nhân bái tướng” và thuận tiện cho việc chi viện từ tổng kho Thăng Long (do Bà Nguyễn Thị Duyên ở làng Giảng Võ xưa coi giữ, nay là quận Ba Đình, được nhân dân tôn vinh Bà Chúa Kho). Kho lương này có thể tiếp ứng quân lương xuôi sông Hồng về hay từ biển qua cửa Tuần Vường vào, chuẩn bị cho cuộc chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ 2 (1285). Cũng từ vị trí này, có thể chi viện cho quân ta ở Nam Thanh (Hải Dương), Tiên Lãng (Hải Phòng), Châu Hoan, Châu Ái (Nghệ An - Thanh Hóa). Địa thế này rất thuận tiện cho việc vận chuyển lương thảo của triều đình đến hoặc quân lương, khí giới của giặc tiếp viện đường biển quân ta cướp được đưa về. Địa thế vùng chiêm trũng thì hiểm yếu và khó với giặc, nhưng quân binh nhà Trần giỏi sông nước nên hợp ý quân. Vùng đất này có 6 con mương nhỏ gọi là “Lục đầu khê” như 6 con rồng chầu về. Đi theo các mương này ra Long Xuyên, xuôi Xuân Khê, ra sông Châu, xuống Tuần Vường ra biển. Hoặc từ đây ra sông Hồng chỉ gần 2 km, rồi qua phố Hiến (Hưng Yên), hay về Thăng Long. Chính vì thế đất quý nên Trần Hưng Đạo chọn làm kho và đặt tên là Trần Thương (nghĩa Hán, chữ thương là kho). Ông còn đặt tên các địa danh: “Đội Xuyên” (quân canh giữ thường xuyên), “Khu Mật” (khu tối mật), “Khu Hoàng” (khu của các vị hoàng tộc, vương tộc, quan tướng ở). Hiện nay, ở nơi đây vẫn còn giữ được tên cũ như Trần Thương, Khu Hoàng, Đội Xuyên. Chính vì tích hội đủ các yếu tố “Thiên - Địa - Nhân” ở đây nên nhân dân đã dựng đền thờ ông để tưởng nhớ công lao vị tướng tài ba được người đời tôn vinh lên bậc Thánh.



CTG (Tổng hợp)