|
|
“Đến làng Chuông cứ hỏi bà Hương chuyên xuất khẩu nón lá là ai cũng biết. Bà ấy mở cả công ty xuất khẩu nằm ngay bên đường quốc lộ kia kìa”, ngay từ đầu huyện Thanh Oai (Hà Nội), một người chỉ đường nhiệt tình nói với chúng tôi như thế.
Em làm được!
Đó là câu nói mà cô gái 18 tuổi Tạ Thu Hương trả lời khách khi đang bán nón ở chợ làng Chuông, một làng nghề làm nón lừng danh đất Bắc, hơn hai mươi năm về trước. Năm ấy, một nhóm khách từ Hà Nội về chơi thấy một cô gái trẻ nhanh nhẹn với nước da mặn mà đon đả chào mời khách mua nón. Nón của cô rất đẹp, chắc chắn và trắng muốt. Một vị khách, sau này được biết là đại diện công ty xuất nhập khẩu Hưng Yên, hỏi: “Anh đang cần 5.000 chiếc nón thật đẹp trong tuần này để làm quà cho khách nước ngoài, em có làm được không?”, “Em làm được!”, cô gái trả lời ngay không đắn đo.
Sau này, bà Hương bảo: “Lúc ấy tôi cũng không nghĩ gì nhiều, chỉ biết là mình sẽ làm được bởi tôi vẫn quen đi thu mua nón của bà con trong làng”. Chỉ trong một tuần, Hương chạy đến từng nhà, liều mình trả thêm tiền công cho bà con để gom đủ nón giao đúng hẹn cho khách hàng.
Năm 1988, 20 tuổi, Tạ Thu Hương lại đạp xe lên Hà Nội và thuyết phục thành công một công ty thương mại ký hợp đồng xuất 10.000 chiếc nón ra nước ngoài. Bà Hương nói: “Họ có mối xuất khẩu, mình làm được hàng nên phải đến gặp họ chứ. Hồi nhỏ tôi thấy nhà mình và bà con hàng xóm làm nón ra nhiều khi phải đổi cho hợp tác xã để lấy mấy cân gạo mốc nên khi thấy có cơ hội bán được nhiều nón giá cao là tôi chớp lấy ngay”.
Bà Nguyễn Thị Vinh, 73 tuổi, người làng Chuông khen: “Cô ấy nhanh nhẹn lắm, cứ đi từ nhà này sang nhà khác động viên mọi người làm nón rồi bảo rằng “có bao nhiêu cháu mua tất”. Mà cô ấy luôn trả cao hơn ngoài chợ nhé!”
Đến nay, nón lá làng Chuông đã được tiêu thụ ở nhiều thị trường như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, Đài Loan… Trước năm 2008, mỗi năm bà Hương xuất ra nước ngoài gần 40.000 chiếc nón, thu về khoảng 500 triệu đồng. Năm 2009, khi kinh tế thế giới gặp suy thoái, bà xuất hơn 20.000 chiếc nón, trị giá hơn 200 triệu đồng. Trong ba gian của nhà bà, lèn chặt những nón và nón. Điều đáng nói là cùng với chiếc nón lá truyền thống của người Việt, bà Hương còn xuất thêm mũ lá, nón lụa, các kiểu nón truyền thống của người Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc; quạt, chuông gió làm kiểu nón lá… hết sức phong phú. Khách hàng yêu cầu mẫu gì là bà nhận ngay, về làm khuôn, làm mẫu đối ứng và nếu được là giao ngay cho bà con chòm xóm cùng làm, lúc nhiều quá thì đặt thêm mấy xã lân cận. Tháng cao điểm, làng làm tới 70.000 nón đủ các loại.
![]() Các bé trai ở làng Chuông cũng biết làm nón lá. |
Niềm cảm hứng của làng
Ông Hoàng Công Khoá, chủ tịch xã Phương Trung, tấm tắc khen: “Người ta gọi chị ấy là Hương nón. Chỉ là một nông dân bình thường nhưng chị Hương là người có công đầu trong việc quảng bá nón làng Chuông với thế giới. Các đoàn khách nước ngoài về đây liên tục, họ vừa tham quan, vừa mua nón. Cả vùng chỉ có mỗi chị ấy làm được việc này. Chị ấy nghĩ ra nhiều loại nón khác nhau để vừa xuất khẩu, vừa đem đi triển lãm, chào hàng”.
Mỗi năm, cả xã làm khoảng 3,5 – 4 triệu cái nón lá bán khắp nơi và không bao giờ bị ế. Thu nhập còn thấp nhưng ổn định, tận dụng được lao động nhàn rỗi ngoài việc đồng áng. Ông Khoá hể hả: “Chị ấy giúp cho danh tiếng nón làng Chuông bay đi khắp nơi đồng thời tiếp thêm tình yêu nghề cho bà con. Làng Chuông nay đang dần trở thành điểm du lịch văn hoá hấp dẫn thu hút khách”.
Lô hàng gần đây nhất, bà Hương vừa gửi vào Sài Gòn hơn 8.000 món đồ để xuất sang Ba Lan trong đó có 2.000 chiếc mũ lá, 400 chiếc quạt, 70 bộ chuông nón, còn lại là nón lá truyền thống. Bà Nguyễn Thị Lan, một Việt kiều ở Ba Lan, người đứng ra nhập lô hàng này, cho biết: “Chúng tôi cần những loại gì, thời gian như thế nào cô ấy đáp ứng được ngay. Chúng tôi nhập hàng của cô ấy mỗi lần cả chục ngàn chiếc. Hàng qua Ba Lan rồi được chuyển đi bán ở khắp các nước Tây Âu và Mỹ”.
Bà Hương mân mê chiếc nón lá cách tân được bọc vải lụa bên ngoài trên tay và nói với tôi: “Em xem, chiếc nón này được khâu rất tinh xảo. Nón nhẹ nhàng thanh thoát lại hiện đại với nét óng ả của lụa, màu sắc phong phú dễ kết hợp với các loại váy áo. Làm chiếc nón này đối với người dân làng Chuông là việc hết sức dễ dàng bởi vì họ vốn khéo tay lại yêu nghề. Chị chỉ ước mong là càng ngày càng xuất được nhiều những chiếc nón đắt tiền như thế, để khắp nơi người ta thấy được chiếc nón lá vẫn có sức sống mạnh mẽ và luôn được thay đổi để hợp với thời đại”. Mỗi chiếc nón lụa làm mất hơn một ngày, có giá hơn 200.000 đồng, và người trực tiếp làm được lời 40.000 đồng. Còn làm nón lá thường thì một ngày cũng kiếm được khoảng 10.000 – 20.000 đồng/người.
Nhờ bà Hương, tiếng tăm chiếc nón lá làng Chuông cứ thế vang xa. Tại hội nghị cấp cao APEC lần thứ 14 (11.2006) tổ chức tại Hà Nội, bà Hương được tổng cục Du lịch đặt làm một chiếc nón lớn để dùng phụ hoạ cho bài hát Việt Nam quê hương tôi trong chương trình chào mừng các nhà lãnh đạo trên thế giới đến dự hội nghị. Bà làm chiếc nón mất mười ngày mới xong. Chiếc nón có chiều cao 1,8m, đường kính 3,6m. Đây được xem là chiếc nón lá lớn nhất Việt Nam.
Từ một cô gái bán nón lá ở chợ làng, nay người phụ nữ ấy trở thành “đại sứ” nón lá và vừa ra ứng cử hội đồng nhân dân, đại diện cho bà con làng nghề.
Từ chiếc nón mậu dịch đổi gạo mốc năm xưa cho đến chiếc nón lụa thướt tha đài các giá tới mấy trăm ngàn đồng hôm nay là một chặng đường dài, in đậm giọt mồ hôi của người phụ nữ nông dân ấy. Nhưng trên tất cả là tình yêu của bà với làng quê, mà cụ thể nhất là chiếc nón lá đã gắn bó tự bao đời. Làm sao một cô gái quê chỉ mới tốt nghiệp cấp ba trường làng lại có thể trở thành giám đốc kinh doanh một mặt hàng mà nhiều người vẫn nghĩ chỉ còn tồn tại sau luỹ tre làng và đưa nó đi khắp thế giới? Trả lời thắc mắc này, bà Hương nhẹ nhàng: “Tôi cũng không biết nói thế nào. Khi mình thiết tha gắn bó thì sẽ có cái gì đó luôn thôi thúc mình làm việc hết sức để đạt tới điều mình mong muốn”.
Theo SGTT
.jpg)
.jpg)















