38 triệu lao động chưa qua đào tạo: Nguy cơ nền kinh tế 'kẹt' ở năng suất thấp

(CTG) Năng suất lao động còn thấp, số lao động chưa qua đào tạo, không có chứng chỉ, bằng cấp chiếm tỉ trọng lớn là những chỉ báo cho thấy nền kinh tế có nguy cơ mắc kẹt ở các phân khúc giá trị gia tăng thấp.

38 triệu lao động chưa qua đào tạo: Nguy cơ nền kinh tế 'kẹt' ở năng suất thấp - Ảnh 1.
 

Mô hình tăng trưởng của Việt Nam hiện vẫn chủ yếu dựa vào lao động chi phí thấp, mở rộng đầu tư và khai thác tài nguyên - Ảnh: G.T.

Năng suất lao động tăng nhưng còn thấp và chênh lệch lớn

Báo cáo đề dẫn hội nghị về giải pháp nâng cao năng suất lao động gắn với phát triển thị trường lao động do Cục Việc làm tổ chức ngày 22-4 tại TP.HCM chỉ ra rằng năng suất lao động Việt Nam tuy có cải thiện, hiện còn rất thấp so với thế giới.

Cụ thể, tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt khoảng 29,2% vào năm 2025, tăng so với mức 15,6% năm 2011, nhưng vẫn còn gần 75% lực lượng lao động chưa có bằng cấp, chứng chỉ chuyên môn kỹ thuật, tương đương khoảng 38 triệu người chưa qua đào tạo.

Theo báo cáo, năm 2025 năng suất lao động của toàn nền kinh tế ước đạt 245 triệu đồng/lao động, tương đương khoảng 9.809 USD/lao động. Tốc độ tăng năng suất lao động bình quân giai đoạn 2021-2025 đạt 5,17%/năm, thấp hơn so với giai đoạn trước.

Xét theo khu vực kinh tế, năng suất lao động còn có chênh lệch lớn. Năm 2025, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt khoảng 111 triệu đồng/người; khu vực công nghiệp và xây dựng đạt khoảng 275,6 triệu đồng/người; khu vực dịch vụ đạt khoảng 256,5 triệu đồng/người. Khu vực nông nghiệp vẫn có mức năng suất thấp nhất.

Cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm tỉ trọng nông nghiệp, tăng ở công nghiệp và dịch vụ. Tuy nhiên sự chuyển dịch này chưa gắn chặt với nâng cao năng suất lao động.

Đáng chú ý, khu vực lao động phi chính thức vẫn chiếm tỉ trọng lớn trong nền kinh tế. Theo đó, khoảng 63-68% lao động đang làm việc trong khu vực này, với đặc điểm việc làm thiếu ổn định, năng suất thấp, thu nhập bấp bênh và ít được bảo vệ bởi các chính sách an sinh xã hội.

Bên cạnh đó, tại phần thảo luận, một số đại biểu đề cập đến tình trạng "thanh niên 3 không" - tức không có việc làm, không tham gia học tập và không được đào tạo. Theo số liệu từ Cục Thống kê, cả nước có gần 1,6 triệu thanh niên từ 15 - 24 tuổi thuộc nhóm này, chiếm khoảng 11,4% tổng số thanh niên.

Doanh nghiệp chưa dẫn dắt, năng suất lao động khó tăng tốc

Trình bày báo cáo đề dẫn tại hội nghị, bà Nguyễn Thị Quyên - Phó cục trưởng Cục Việc làm - cho biết mô hình tăng trưởng của Việt Nam hiện vẫn chủ yếu dựa vào lao động chi phí thấp, mở rộng đầu tư và khai thác tài nguyên - những yếu tố đang dần đạt tới giới hạn.

Theo bà Quyên, một trong những hạn chế lớn hiện nay là doanh nghiệp trong nước phần lớn có quy mô nhỏ và vừa, chưa thực sự đóng vai trò dẫn dắt trong nâng cao năng suất lao động. Năng lực công nghệ còn hạn chế, chủ yếu tham gia các khâu lắp ráp, phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu, khiến khả năng tạo giá trị gia tăng cao còn thấp.

Liên quan đến vấn đề này, ông Trần Anh Tuấn - Phó chủ tịch Hội Giáo dục nghề nghiệp TP.HCM - cho rằng cần tăng cường vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp trong phát triển nguồn nhân lực và nâng cao năng suất lao động.

38 triệu lao động chưa qua đào tạo: Nguy cơ nền kinh tế 'kẹt' ở năng suất thấp - Ảnh 2.

Ông Trần Anh Tuấn - Phó chủ tịch Hội Giáo dục nghề nghiệp TP.HCM - chia sẻ về vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực - Ảnh: VŨ THỦY

Theo ông, cần lấy doanh nghiệp làm trung tâm trong đào tạo chất lượng nguồn nhân lực, trong đó phải có những doanh nghiệp tiên phong đóng vai trò "đầu tàu", tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo.

Đồng thời cần xây dựng các khung năng lực để doanh nghiệp tham gia đào tạo một cách bài bản, qua đó gắn kết chặt chẽ hơn giữa đào tạo và nhu cầu thực tế của thị trường lao động.

Bên cạnh vai trò của doanh nghiệp, báo cáo cũng cho thấy nhiều "nút thắt" khác đang kìm hãm khả năng cải thiện năng suất lao động.

Trong đó, cơ cấu lao động dù đã chuyển dịch nhưng chưa bền vững. Một bộ phận lao động rời khu vực nông nghiệp song chưa thể tham gia vào các ngành có giá trị gia tăng cao, chủ yếu do hạn chế về kỹ năng và trình độ.

Hệ thống thông tin thị trường lao động được đánh giá còn phân tán, thiếu đồng bộ và chưa đáp ứng yêu cầu dự báo.

Cùng với đó, khu vực phi chính thức với tỉ trọng lớn tiếp tục đặt ra thách thức trong việc nâng cao chất lượng việc làm và bảo đảm an sinh xã hội, khi phần lớn lao động không có hợp đồng lao động và ít tiếp cận các chính sách bảo vệ.

Theo TT