24 năm gắn bó với giáo dục mầm non ở vùng khó khăn của Hà Tĩnh, cô giáo Phan Thị Hồng Quyên đã trải qua những ngày dạy học trong lớp tranh vách nứa, soạn giáo án dưới ánh đèn dầu và vượt hàng chục cây số đường rừng vận động trẻ đến trường. Đặc biệt, khi cả xã phải di dời để xây dựng công trình thủy lợi, cô chọn tiếp tục đồng hành cùng học trò đến vùng tái định cư, tiếp nối hành trình gieo chữ.
Lựa chọn ở lại với học trò
Năm 2002, sau khi tốt nghiệp Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tĩnh, cô giáo Phan Thị Hồng Quyên nhận quyết định về công tác tại Trường Mầm non Hương Quang, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh. Khi ấy, cô vừa bước sang tuổi 19, mang theo những háo hức của một giáo viên trẻ lần đầu đứng lớp.
Hương Quang thời điểm đó là xã biên giới đặc biệt khó khăn. Từ nhà đến trường gần 30km, chủ yếu là đường núi quanh co, chưa được trải nhựa. Những ngày mưa, đường trơn trượt, việc đi lại càng vất vả. Không có điều kiện về nhà mỗi ngày, cô Quyên xin ở nhờ nhà người dân. Cuộc sống thiếu điện, thiếu nước sinh hoạt thuận tiện. Trường lớp tạm bợ, có thời điểm phải mượn hội quán của xóm làm nơi dạy học. Phòng học nền đất, vách nứa, đồ dùng và thiết bị phục vụ giảng dạy gần như không có.
Những giáo án đầu tiên được cô chuẩn bị dưới ánh đèn dầu. Để có đồ chơi, học liệu cho trẻ, giáo viên phải tự tìm nguyên liệu, cắt dán, sáng tạo từ những vật dụng sẵn có.
Khó khăn không chỉ nằm ở điều kiện dạy học. Đời sống người dân còn nhiều thiếu thốn, nhiều gia đình mưu sinh bằng nghề rừng, chưa có điều kiện quan tâm đầy đủ đến việc học của con. Vận động trẻ đến lớp vì thế trở thành công việc thường xuyên của các giáo viên.
|
|
Có những đứa trẻ đến trường trong bộ quần áo cũ, chân chưa có dép. Nhiều em nhút nhát, rụt rè, chưa quen sinh hoạt tập thể. Cô giáo trẻ vừa dạy, vừa chăm sóc, dỗ dành để các em dần thích nghi với môi trường mới.
Nhớ lại những ngày đầu, cô Quyên thừa nhận từng có lúc chạnh lòng, mệt mỏi và tự hỏi liệu mình có thể gắn bó lâu dài với nơi này.
“Nếu các em đã thiệt thòi hơn những đứa trẻ ở nơi khác, thì càng cần có những người giáo viên ở lại, yêu thương và đồng hành cùng các em”. Suy nghĩ ấy trở thành lý do để cô tiếp tục bám trường, bám lớp. Sau hai năm công tác, cô lập gia đình và chọn Hương Quang làm quê hương thứ hai.
Tưởng rằng cuộc sống đã dần ổn định, tháng 8/2013, một bước ngoặt lớn lại đến với cô và người dân địa phương. Để thực hiện công trình thủy lợi Ngàn Trươi - Cẩm Trang, toàn xã Hương Quang phải di dời đến nơi ở mới. Ngôi trường cô gắn bó hơn 10 năm cũng nằm trong diện giải tỏa.
Trước sự thay đổi ấy, cô Quyên đứng trước hai lựa chọn: chuyển về một địa bàn thuận lợi hơn hoặc tiếp tục theo người dân đến khu tái định cư Hói Trung, nơi cuộc sống còn nhiều khó khăn. Cô quyết định ở lại cùng bà con và học trò.
Nhưng những ngày đầu tại khu tái định cư không diễn ra như mong đợi. Dù trường lớp mới đã được xây dựng khang trang, nhiều gia đình vẫn chưa chuyển đến nơi ở mới nên học sinh chưa thể đến lớp. Ngày khai giảng năm học 2013-2014, toàn trường chỉ có 5 trẻ đến dự. Đó là một trong những ký ức khó quên nhất trong 24 năm làm nghề của cô Quyên.
Không chờ học sinh tự tìm đến trường, cô cùng đồng nghiệp vượt hơn 50km đường rừng trở lại Hương Quang, gặp gỡ từng gia đình, vận động phụ huynh chuyển về khu tái định cư để con em được tiếp tục học tập. Những chuyến đi ấy cuối cùng cũng mang lại kết quả. Các gia đình dần ổn định nơi ở mới, trẻ trở lại lớp, ngôi trường từng vắng lặng bắt đầu có tiếng nói cười. Với cô Quyên, đó không chỉ là việc duy trì sĩ số học sinh mà còn là trách nhiệm của người giáo viên trước những thay đổi lớn trong cuộc sống của trẻ.
Đổi mới từ những điều giản dị
Sau nhiều năm dạy học trong điều kiện thiếu thốn, cô Phan Thị Hồng Quyên nhận ra rằng để trẻ yêu thích đến trường, giáo viên không thể chỉ truyền đạt kiến thức theo những phương pháp quen thuộc. Từ đó, cô chủ động tìm hiểu, áp dụng các hình thức giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, đặc biệt chú trọng hoạt động trải nghiệm và phương pháp STEAM.
Thay vì yêu cầu trẻ ghi nhớ chữ cái qua những bài học lặp lại, cô tổ chức cho các em làm quen với chữ bằng trò chơi và những vật liệu gần gũi. Từ cát, lá cây, hột hạt, que kem, trẻ có thể tự tạo hình chữ cái, ghép chữ, tìm kiếm chữ trong lớp học hoặc cùng bạn thực hiện những nhiệm vụ nhỏ. Trong các hoạt động ấy, cô khuyến khích trẻ quan sát, đặt câu hỏi, thử nghiệm và trình bày suy nghĩ. Những câu trả lời chưa chính xác không lập tức bị bác bỏ mà trở thành cơ hội để trẻ tiếp tục tìm hiểu.
|
|
Theo cô Quyên, điều quan trọng không chỉ là trẻ nhớ được bao nhiêu chữ cái, mà còn là khả năng tự tin, hợp tác và chủ động giải quyết vấn đề. Cô nghiên cứu, áp dụng sáng kiến đưa phương pháp STEAM vào hoạt động làm quen chữ cái cho trẻ 5 tuổi.
Ở địa bàn còn khó khăn, việc triển khai phương pháp mới đòi hỏi nhiều công sức. Không phải lúc nào nhà trường cũng có đủ học liệu và thiết bị cần thiết. Cô tận dụng nguyên vật liệu tái chế, đồ dùng quen thuộc trong sinh hoạt để thiết kế các hoạt động phù hợp. Có những sản phẩm phải làm đi làm lại nhiều lần để bảo đảm an toàn và đáp ứng khả năng sử dụng của trẻ. Có những hoạt động sau khi triển khai phải điều chỉnh vì chưa đạt hiệu quả như dự kiến.
“Người giáo viên không phải là người luôn có sẵn mọi câu trả lời; người giáo viên tốt là người luôn sẵn sàng tìm kiếm câu trả lời cùng trẻ”, cô Quyên chia sẻ.
Những nỗ lực trong chuyên môn đã giúp cô có 10 năm đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp huyện, 3 lần đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở, được công nhận điển hình tiên tiến giai đoạn 2015-2020 và nhận Bằng khen của UBND tỉnh Hà Tĩnh về thành tích thực hiện nhiệm vụ năm học 2025-2026.
Hiện cô Phan Thị Hồng Quyên công tác tại Trường Mầm non Vũ Quang, xã Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh, đảm nhiệm vai trò tổ phó chuyên môn và Phó Bí thư Chi bộ Mầm non 4.
Tham gia chương trình “Chia sẻ cùng thầy cô” năm 2026, cô có dịp nhìn lại chặng đường đã qua, đặc biệt là những năm tháng gắn bó với vùng đất Hương Quang và các thế hệ học trò. “Có. Rất vất vả”, cô trả lời khi được hỏi về nghề giáo viên mầm non. Nhưng với câu hỏi có còn yêu nghề hay không, câu trả lời của cô vẫn là: “Có. Và tôi tự hào vì mình là một giáo viên mầm non”.
KA

















