Thay đổi này xuất hiện từ kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025 quy định về số môn thi bắt buộc và tự chọn còn 4 môn, đồng thời tuyển sinh đại học ngày càng linh hoạt. Do đó học sinh (HS) muốn nâng cao kết quả thi và giảm áp lực học tập. Tuy nhiên trong bối cảnh thế giới đòi hỏi năng lực toàn diện và tư duy liên môn, việc thu hẹp học tập ở năm cuối đặt ra câu hỏi về chất lượng toàn diện phổ thông và khả năng chuẩn bị cho một thế hệ thích ứng với thế giới biến động khôn lường.
BẢN CHẤT CỦA XU HƯỚNG "TẬP TRUNG HỌC 4 MÔN"
Từ kỳ thi tốt nghiệp năm 2025, số môn thi giảm còn 4, gồm hai môn bắt buộc (toán, ngữ văn) và 2 môn tự chọn theo định hướng nghề nghiệp. Nhiều HS cho rằng chỉ cần đạt mức an toàn ở 4 môn này là đủ để đỗ tốt nghiệp, dù điểm xét tốt nghiệp vẫn tính 50% điểm học bạ toàn cấp THPT. Đồng thời, các phương thức tuyển sinh ĐH ngày càng đa dạng như xét học bạ, kết hợp điểm thi với chứng chỉ ngoại ngữ, kỳ thi năng lực hoặc bài thi riêng của các trường khiến cánh cửa vào ĐH rộng mở với nhiều phương thức. Từ đây thúc đẩy xu hướng "đầu tư đúng mục tiêu".

Từ kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025, số môn thi giảm còn 4, gồm 2 môn bắt buộc (toán, ngữ văn) và 2 môn tự chọn theo định hướng nghề nghiệp. ẢNH: NHẬT THỊNH
Trong bối cảnh đó, nhiều HS tập trung cao độ vào 4 môn thi, còn các môn không thi thường được giảm thời lượng học hoặc chỉ học ở mức tối thiểu để đủ điều kiện dự thi. Xu hướng này thể hiện rõ ở nhóm có chứng chỉ quốc tế, định hướng học nghề, xuất khẩu lao động hoặc đi làm sớm, bởi xếp loại học tập cuối lớp 12 không còn ảnh hưởng lớn đến cơ hội tuyển sinh.
Tại các địa phương có tỷ lệ xuất khẩu lao động cao như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh hay vùng bắc Quảng Trị, nhiều HS chuẩn bị ngoại ngữ từ sớm (Hàn Quốc, Nhật Bản, Đức, Trung Quốc…) và khi lên lớp 12 chỉ dồn sức cho 4 môn thi để bảo đảm tốt nghiệp. Một giáo viên tin học của Trường THPT Hải Lăng (Quảng Trị) cho biết nhiều HS dù đăng ký môn tin nhưng vào lớp 12 không còn tập trung vì đây không phải môn thi tốt nghiệp. Hiệu trưởng một trường THPT ở Quảng Trị cũng xác nhận thực trạng này và cho biết nhà trường phải tổ chức đăng ký môn thi sớm, phân lớp ôn tập phù hợp để hỗ trợ HS.
NHỮNG MẶT TÍCH CỰC KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN
Điểm tích cực của xu hướng này là giảm tải khối lượng học tập giúp HS lớp 12 bớt căng thẳng. Nhiều em có thêm thời gian chuẩn bị kỳ thi đánh giá năng lực, luyện ngoại ngữ hoặc hoàn thiện hồ sơ du học. Việc giảm học thêm các môn không thi cũng giúp gia đình bớt gánh nặng tài chính.
Với nhà trường, việc HS tập trung vào các môn thi tạo thuận lợi cho quản lý ôn luyện, nhất là các môn có tính phân hóa cao. Nhờ sự tập trung này, một số trường đã ghi nhận kết quả điểm thi năm 2025 cao hơn các năm trước và cải thiện thứ hạng so với các trường THPT trong tỉnh.
Ở góc độ lựa chọn cá nhân, xu hướng này đôi khi phù hợp với mục tiêu nghề nghiệp. HS định hướng khối xã hội có thể giảm đầu tư cho khoa học tự nhiên; HS theo đuổi ngành nghề STEM ưu tiên toán, lý, hóa và ngoại ngữ. Việc học tập có trọng tâm giúp các em tự tin hơn với mục tiêu tương lai và giảm tải học tập. Mới đây, tại diễn đàn Quốc hội, đại biểu Trần Anh Tuấn (TP.HCM) nhìn nhận hiện HS phải học rất nhiều môn học, từ đó ông đề nghị xem xét, đánh giá lại số môn học phù hợp khả năng hấp thụ của HS.

Giáo dục phổ thông không chỉ để vượt qua một kỳ thi mà để chuẩn bị cho cuộc đời dài hạn của mỗi công dân. ảnh: Đào Ngọc Thạch
VÀ NHỮNG HỆ LỤY DÀI HẠN ĐANG HIỆN RÕ
Tuy vậy, khi đối sánh với mục tiêu giáo dục toàn diện của Chương trình giáo dục phổ thông 2018, sự lệch pha bắt đầu bộc lộ. Mục tiêu quan trọng của chương trình mới là hình thành phẩm chất và năng lực, khả năng thích ứng và tư duy đa ngành, liên ngành - những yếu tố thiết yếu trong bối cảnh biến động nghề nghiệp, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo. Khi HS chỉ học 4 môn, nền tảng toàn diện bị thu hẹp đáng kể.
Nhiều giáo viên phản ánh HS thụ động trong các môn không thi; tiết học kém sôi nổi, bài tập bị qua loa, kéo theo chất lượng dạy - học giảm sút. Lỗ hổng tri thức xuất hiện và có thể theo các em suốt cuộc đời, đặc biệt ở những lĩnh vực như khoa học xã hội và khoa học tự nhiên, công nghệ, ngoại ngữ.
Hệ lụy không chỉ nằm ở chỗ thiếu kiến thức mà năng lực đọc hiểu, tư duy công dân, khả năng phân tích thông tin xã hội - những kỹ năng quan trọng trong thời đại thông tin bùng nổ sẽ bị suy giảm nếu HS bỏ bê các môn như lịch sử, địa lý, giáo dục kinh tế và pháp luật, tin học, công nghệ, vật lý, hóa học, sinh học.
CẦN ĐỊNH HƯỚNG THEO MỤC TIÊU GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
Giáo dục phổ thông không chỉ để vượt qua một kỳ thi mà để chuẩn bị cho cuộc đời dài hạn của mỗi công dân. Ông Nguyễn Văn Hiếu, Giám đốc Sở GD-ĐT TP.HCM, từng cho rằng giáo dục thành phố không chỉ chuẩn bị cho HS vượt qua kỳ thi mà hướng đến đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho thành phố. Vì vậy, nhiều năm qua các trường học tập trung nâng cao chất lượng các môn toán, ngoại ngữ, khoa học tự nhiên, công nghệ, giáo dục STEM… Nhờ đó, tỷ lệ HS của thành phố chọn các môn ngoại ngữ, vật lý, hóa học, sinh học để thi tốt nghiệp cao hơn các địa phương khác.
Nếu xu hướng "chỉ học 4 môn" tiếp tục lan rộng, nền tảng năng lực của HS VN có nguy cơ bị suy giảm trong bối cảnh thị trường lao động đòi hỏi khả năng tư duy đa ngành, liên ngành, công nghệ, kinh tế, dịch vụ chất lượng cao.
Nhiều chuyên gia cho rằng cần xem xét điều chỉnh cấu trúc kỳ thi tốt nghiệp để đánh giá toàn diện hơn. Các môn không thi cần được đổi mới phương pháp theo hướng gắn với thực tiễn, dự án, trải nghiệm, giúp HS thấy giá trị thực sự của môn học. Khi môn học trở nên hấp dẫn và gần với đời sống, HS sẽ không còn xu hướng xem nhẹ.
Nhà trường và giáo viên giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì chất lượng các môn này. Phụ huynh cũng cần hiểu rằng lợi ích ngắn hạn từ học lệch có thể dẫn đến thiệt thòi lớn cho tương lai lâu dài.
Xu hướng HS lớp 12 chỉ tập trung 4 môn thi là phản ứng tự nhiên trước thay đổi thi tốt nghiệp và tuyển sinh, nhưng nếu không điều chỉnh kịp thời sẽ cản trở mục tiêu giáo dục toàn diện. Chỉ khi cân bằng giữa giảm áp lực và bảo đảm năng lực nền tảng, giáo dục phổ thông mới đáp ứng yêu cầu thời đại để giúp HS VN tự tin hội nhập với tư duy đa chiều, kiến thức vững, đủ sức sánh vai với HS các nước.
Kinh nghiệm từ một số nướcNhiều quốc gia từng đối mặt với tình trạng học lệch do áp lực kỳ thi. Tuy nhiên, hệ thống chính sách của họ đã đưa ra các biện pháp khắc phục đáng chú ý. Tại Phần Lan, dù số môn thi không nhiều nhưng quá trình đánh giá HS được thực hiện liên tục thông qua dự án, sản phẩm học tập và kiểm tra định kỳ. Nhờ đó, HS vẫn duy trì năng lực toàn diện. Ở Singapore, HS không thể chỉ tập trung vào một số môn quá sớm. Các em phải hoàn thành chương trình nền tảng rộng, được tư vấn nghề nghiệp bài bản và chỉ chuyên sâu khi đã đủ trưởng thành về nhận thức. Tại Đức, dù phân luồng sớm, HS vẫn phải học đầy đủ kiến thức xã hội và khoa học cơ bản, kể cả khi theo hướng nghề nghiệp. Mục tiêu là tránh tình trạng "mất nền". Nhật Bản từng gặp tình trạng HS bỏ bê môn không thi đại học. Chính phủ nước này đã siết chặt chuẩn đầu ra THPT, tăng cường các môn về đạo đức, xã hội, khoa học tổng hợp; đồng thời điều chỉnh chương trình để bảo đảm HS tốt nghiệp có kiến thức nền tảng tối thiểu. Điểm chung của các nước này là kỳ thi không quyết định tổ chức dạy và học mà chính chương trình quyết định cách thi. Ngược lại, ở VN, nhiều năm qua cách thi đang ảnh hưởng mạnh đến cách thức dạy và học. |
Theo TN












